Mục lục
Sói rừng (Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai) là cây thảo/gỗ nhỏ thường xanh, được dùng rộng rãi trong y học dân gian và y học cổ truyền Trung Quốc để thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, cầm máu, hỗ trợ các chứng viêm nhiễm, chảy máu, đau nhức. Trong những thập niên gần đây, Sói rừng được quan tâm nghiên cứu với vai trò hỗ trợ điều trị ung thư (tăng miễn dịch, giảm tác dụng phụ của hóa – xạ trị) nhờ các hợp chất phenolic, sesquiterpen và polysaccharide.
Tên gọi khác
-
Sói rừng, Cửu tiết trà (một số địa phương)
-
Tiếng Anh: Glabrous sarcandra
-
Tiếng Trung: 九节茶 (Jiǔ jié chá)
-
Dược liệu: Herba Sarcandrae glabrae
Tên khoa học
Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai
Họ: Chloranthaceae (Họ Thanh hương)
Mô tả thực vật
-
Cây thảo hoặc gỗ nhỏ thường xanh, cao 0,5–1,5 m.
-
Thân tròn, nhẵn; đốt rõ.
-
Lá mọc đối, phiến bầu dục đến mác, mép khía răng nhỏ; lá dày, xanh sẫm.
-
Hoa rất nhỏ, màu lục nhạt, không có cánh hoa, tụ thành bông dày ở nách lá hoặc đầu cành.
-
Quả mọng hình cầu nhỏ, khi chín màu đỏ tươi, rất dễ nhận biết.
-
Mùa hoa – quả: hoa mùa xuân; quả chín mùa thu – đông.
Phân bố và sinh thái
Nguồn gốc
-
Đông Á và Đông Nam Á.
Du nhập
-
Phân bố tự nhiên ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và một số nước lân cận.
Tại Việt Nam
-
Gặp ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ; độ cao 300–1.500 m.
-
Mọc dưới tán rừng thường xanh, ven suối, nơi ẩm mát.
Sinh thái học
-
Ưa ẩm, bán râm, chịu bóng tốt.
-
Thích đất rừng giàu mùn, thoát nước.
-
Tái sinh bằng hạt và chồi; sinh trưởng trung bình.
Bộ phận dùng – Thu hái – Sơ chế
-
Bộ phận dùng: Toàn cây trên mặt đất.
-
Thu hái: Quanh năm; tốt nhất khi cây đang sinh trưởng mạnh.
-
Sơ chế: Rửa sạch; dùng tươi hoặc phơi/sấy < 60°C.
Thành phần hóa học
-
Sesquiterpen: sarcandrolide A–C, chloranthalactone.
-
Phenolic acids: chlorogenic acid, caffeic acid.
-
Flavonoid, polysaccharide.
-
Tinh dầu và hợp chất kháng oxy hóa khác.
- Theo Trung dược từ hải I, 1993, cây hoa sói rừng chứa vanilin, pelargonidin – 3 – rhamnosyl glucosid, glucosid.
- Theo Tsui Wing – Yan et al., 1996, cây hoa sói rừng còn chứa 2 sesquiterpen là các chloranthalacton A và B [Compendium of Indian medicinal Plants, vol 2 (1970 – 1979). 1999].
Tác dụng dược lý (nghiên cứu hiện đại)
Kháng viêm – kháng khuẩn
-
Ức chế các chất trung gian gây viêm; tác động trên vi khuẩn và nấm thường gặp.
Cầm máu
-
Rút ngắn thời gian chảy máu, hỗ trợ đông máu ngoại biên.
Chống oxy hóa
-
Trung hòa gốc tự do, bảo vệ tế bào.
Điều hòa miễn dịch – hỗ trợ ung thư
-
Polysaccharide và sesquiterpen giúp tăng đáp ứng miễn dịch, giảm tác dụng phụ của hóa trị, hỗ trợ ức chế tăng sinh tế bào ung thư (mức độ thực nghiệm).
Tác dụng chống ung thư:
Cao khô toàn cây hoa sói rừng có tác dụng ức chế sự phát triển tế bào u báng (ascites) L – 415 và ức chế tế bào u sarcom S – 180 là 30,5 – 56,7% ở chuột nhắt trắng [Kee Chang Huang, 1999, The pharmacology of Chinese herbs, 2nd Ed., CRC Press, Boca Raton – London – New York – Washington DC, tr. 475).
Tinh dầu hoa sói rừng có tác dụng ức chế 30 – 40% các tế bào ung thư u bảng Ehrlich, ung thư Walker và sarcoma – 37. Tinh dầu cũng thể hiện độc tính tế bào rất mạnh, làm giảm kích thước của khối u khi tiêm trực tiếp vào khối u và kéo dài thời gian sống của động vật thí nghiệm Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Tác dụng thực bào:
Nước sắc toàn cây hoa sói rừng có tác dụng thực bào, một khía cạnh của tác dụng chống ung thư. Tuy nhiên, dầu bay hơi cất từ toàn cây lại có tác dụng chế thực bào giống như cyclophosphamid. Do đó, toàn cây hoa sói rừng cần phải đun sôi thật kỹ để loại bỏ dầu bay hơi trước khi dùng [Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Tác dụng trên hệ miễn dịch:
Thử các biện pháp miễn dịch ở động vật cho thấy lá và cành cây hoa sói rừng có tác dụng trên hệ miễn dịch tương tự như rễ nhân sâm, tức là liều nhỏ làm tăng chức năng của hệ miễn dịch, còn liều lớn lại làm giảm chức năng này [Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Tác dụng kháng khuẩn:
Cao toàn cây hoa sói rừng có tác dụng kháng khuẩn tốt trên một số loài Staphylococcus, Shigela, Salmonella, Escherichia coli và Streptococcus pyogenes [Kee Chang Huang, 1999, The pharmacology of Chinese herbs, 2nd Ed., CRC Press, Boca Raton – London – New York – Washington DC, tr. 475]
Thử lâm sàng tác dụng chống ung thư:
Cao toàn cây hoa sói rừng dùng lâu dài làm giảm kích thước và cải thiện được trạng thái lâm sàng của bệnh nhân, như làm cho ăn ngon miệng hơn, làm tăng cân nặng của bệnh nhân. Ở một số trường hợp ung thư giai đoạn muộn, có triệu chứng vàng da, dùng hàng ngày cao toàn cây sẽ làm giảm vàng da và làm giảm nồng độ bilirubin trong máu [Kee Chang Huang, 1999, sách đã dẫn].
Toàn cây hoa sói rừng có cả tác dụng chống ung thư, lẫn tác dụng kháng khuẩn, nên dùng để chữa ung thư có biến chứng nhiễm khuẩn rất tốt. Trong số các loại ung thư, đã thấy có hiệu quả tốt hơn đối với các loại ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư tuyến tụy, ung thư thực quản, bệnh bạch cầu và sarcom lưới dòng lympho. Sau khi dùng chế phẩm từ cây hoa sói rừng, triệu chứng bệnh giảm đi, ăn ngon và thời gian sống kéo dài.
Công dụng – Cách dùng trong y học cổ truyền
Theo kinh nghiệm dân gian và YHCT, Sói rừng vị đắng nhẹ, tính mát.
Công năng: Thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, cầm máu, tán ứ. Chữa ho, suy nhược, đau nhức nửa đầu, viêm khớp, đau nhức xương, đụng giập, nắn bó gẫy xương…
Chủ trị
-
Viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm amidan.
-
Mụn nhọt, lở loét, viêm da.
-
Chảy máu cam, băng huyết nhẹ, xuất huyết dưới da.
-
Hỗ trợ điều trị ung thư (phối hợp).
Liều dùng
-
Dùng trong: 15–30 g dược liệu khô/ngày, sắc loãng.
-
Dùng ngoài: Giã đắp hoặc nấu nước rửa.
- Về chữa ung thư, tài liệu trước đây ở Trung Quốc chỉ nêu hoa sói rừng làm giảm u bướu, giảm ứ đọng máu, cải thiện được chức năng tuyến tụy, chữa đau dạ dày. Nhiều tài liệu gần đây ghi rõ họa sói rừng được dùng để điều trị u rắn ác tính như carcinom tuyến tụy, ung thư dạ dày, thực quản, trực tràng, kết tràng, ung thư bàng quang, ung thư gan, phổi, giáp trạng [Chang Minyi, 1992, Kee Chang Huang, 1999, sách đã dẫn].
- Hoa sói rừng được chế tạo dưới dạng viên có 0,5g cao toàn cây tương đương với 2,5g dược liệu khô, mỗi lần uống 3 viên, ngày 3 lần. Cũng đã chế thành dung dịch tiêm, mỗi ống 1ml tương đương lg dược liệu khô, liều hàng ngày 2 – 4 ống, tiêm bắp hoặc tĩnh mạch (Kee Chang Huang, 1999, sách đã dẫn).
- Ở Đông Nam Á, thân và cành hoa sói rừng phơi khô, tán bột và lá tươi nghiền nát để bó gẫy xương, hoặc đắp lên chỗ thâm tím do đụng giập. Nước sắc lá uống có tác dụng làm săn se và chữa nôn (Perry và Metzger, 1980, Medicinal plants of East and Southeast Asia, The MIT Press, Cambridge – Masschusets – London, trang 78).
- Ở Hồng Kông (Trung Quốc) toàn cây hoa sói rừng được dùng chữa lỵ trực khuẩn, viêm ruột thừa, mụn nhọt, thấp khớp dạng thấp, đau lưng, viêm não. Ngày 20 – 30g sắc uống, tán bột uống với rượu hoặc dùng bột làm thành viên uống. Còn dùng rễ ngâm rượu uống chữa đau tức ngực, lá sắc uống trị ho lao. Lá tươi giã nát đắp chữa rắn cắn, bầm tím, hoặc bó gãy xương.
- Để điều trị ung thư đường tiêu hoá, dùng lá và cành hoa sói rừng, chiết thành cao khô, rồi làm thành viên, mỗi viên 0,3 g cao khô, mỗi lần dùng 4 – 6 viên, ngày 3 lần. Để điều trị ung thư tuyến tụy, toàn cây hoa sói rừng chiết lấy flavon, làm thành thuốc viên hoặc thuốc tiêm. Mỗi viên 200 mg và mỗi ống tiêm 25 mg. Thuốc viên, mỗi lần dùng 100 – 400 mg flavon, tuỳ theo điều kiện bệnh nhân, ngày 3 lần. Thuốc tiêm thường dùng mỗi lần 1 ống, ngày 2 lần [Chang Minyi, 1992, sách đã dẫn].
Một số cách dùng dân gian (viết gọn)
-
Viêm họng, sốt: Sói rừng 20 g → sắc uống trong ngày.
-
Mụn nhọt: Sói rừng tươi 30 g → giã đắp.
-
Chảy máu cam: Sói rừng 15 g → sắc uống 1–2 ngày.
An toàn và lưu ý
-
Dược liệu khá an toàn khi dùng đúng liều.
-
Phụ nữ có thai, người đang dùng thuốc chống đông cần hỏi ý kiến chuyên môn.
-
Không dùng liều cao kéo dài nếu không có chỉ định.
Cách trồng và chăm sóc
-
Nhân giống bằng hạt hoặc giâm cành.
-
Trồng nơi ẩm mát, bán râm; đất giàu mùn.
-
Thu hái sau 8–12 tháng trồng.
Hiện trạng bảo tồn
-
Nguồn tự nhiên còn nhưng không dồi dào.
-
Có tiềm năng phát triển trồng làm dược liệu hỗ trợ ung thư – kháng viêm.
Tài liệu tham khảo
-
Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
-
Viện Dược liệu (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
-
Zhang, Q. et al. (2014). Anti-inflammatory and immunomodulatory effects of Sarcandra glabra. Journal of Ethnopharmacology, 155(1), 1–8. (PubMed)
-
Li, Y. et al. (2018). Sesquiterpenes from Sarcandra glabra and their anticancer activities. Phytochemistry, 147, 96–104. (PubMed)
👉 Sói rừng – cây thuốc rừng giá trị với tác dụng kháng viêm, giải độc, cầm máu và hỗ trợ miễn dịch.
Phù hợp cho các bài thuốc viêm nhiễm – xuất huyết nhẹ – hỗ trợ ung thư, cần ưu tiên nguồn trồng bền vững và dùng theo hướng dẫn chuyên môn.






